Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014

ĐẠO ĐỨC DA CAM



PGS,TS. Hồ Khang
Viện lịch sử quân sự Việt Nam
Đi qua chiến tranh, mà có thể ngay trong chiến tranh nữa, người ta thấy rằng sự thử thách của đạo đức cũng quan trọng như sự thử thách về sức mạnh, niềm tin và trí tuệ. Huân chương được gắn trước ngực những người chiến thắng chính để nhắc nhở rằng chiến thắng cũng nằm nơi trái tim và lương tâm. Trong thời đại nhân loại tiến đến sự đồng thuận về lương tri và con người, việc nhắc lại chiến tranh, tội ác và đạo đức là cần thiết: bởi vì lịch sử thường tàn nhẫn để lại những người gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của chiến tranh, trong khi cuộc sống đời thường của họ lại là nỗi đau không thể xóa nhòa của quá khứ.

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

VỀ HỆ THỐNG LÀNG XÃ CHIẾN ĐẤU Ở QUẢNG BÌNH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 – 1954)






Hồ Khang - Lê Thanh Bài
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Chiếm giữ vị trí quân sự trọng yếu trên dải đất Liên Khu 4, nên sau ngày Toàn quốc kháng chiến, Quảng Bình là một trong những mục tiêu mà thực dân Pháp tập trung lực lượng đánh chiếm. Suốt những năm ấy, nơi đây đã diễn ra những cuộc chiến đấu giằng co quyết liệt trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá... giữa nhân dân Quảng Bình và thực dân Pháp. Đã có lúc, thực dân Pháp chiếm đóng phần lớn đất đai của tỉnh, thiết lập 150 đồn bốt, tạo thành hệ thống kiểm soát dày đặc và thẳng tay tàn sát hàng chục nghìn người dân. Trước sự hung hãn của thực dân Pháp, trong thời kỳ đầu, phong trào kháng chiến ở các địa phương trong tỉnh lâm vào tình thế hết sức khó khăn. 

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA HOÀNG KẾ VIÊM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX



PGS, TS HỒ KHANGThS. TRẦN ANH TUẤN
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia nửa cuối thế kỷ XIX, Hoàng Kế Viêm được biết đến là một trọng thần đức độ, một danh tướng tài năng, giàu lòng yêu nước, kiên quyết chiến đấu chống giặc ngoại xâm tới cùng vì nền độc lập thiêng liêng của dân tộc. Tài năng, đức độ cùng những cống hiến xuất sắc của ông đối với đất nước mãi mãi là niềm tự hào và là bài học giáo dục sâu sắc cho các thế hệ. Càng tự hào và trân trọng danh nhân Hoàng Kế Viêm, càng cần ra sức khai thác, phát huy di sản tinh thần vô giá đó vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

CHỈ THỊ KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC ( 25 – 11 – 1945): NHỮNG VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC, SÁCH LƯỢC TRONG BƯỚC CHUYỂN GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG


Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc



PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
 Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, thời kỳ từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1946, Đảng CSĐD, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công một loạt vấn đề có ý nghĩa chiến lược cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn chuyển từ giành chính quyền sang giữ chính quyền. Một trong số những vấn đề đó là việc xác định phương hướng, hình thành đường lối cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945 -1954) mà bản Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc ngày 25-11-1945 của BCHTƯ Đảng CSĐD là dấu mốc quan trọng trong quá trình này.
Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Việt Nam phải đối mặt với hoàn cảnh đầy phức tạp và chồng chất khó khăn, vận nước ở vào tình thế "nghìn cân treo sợi tóc".

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

VÀI NÉT VỀ VẤN ĐỀ TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG TRONG KHỞI NGHĨA BA ĐÌNH



HẢI DƯƠNG – HỒ KHANG
Viện Lịch sử quân sự
          100 năm đã trôi qua, nhưng khởi nghĩa Ba Đình càng khẳng định ý nghĩa lịch sử và tầm vóc to lớn đối với phong trào Cần Vương chống Pháp của nhân dân Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa Ba Đình một cách toàn diện hơn, sâu sắc hơn vẫn là một trong những vấn đề khoa học hết sức cần thiết. Trong bài viết này với góc độ của những người làm công tác lịch sử quân sự. Chúng tôi trình bày về vấn đề tổ chức và sử dụng lực lượng trong khởi nghĩa Ba Đình.

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

CỐ KẾT DÂN TỘC-MỘT TRUYỀN THỐNG BỀN VỮNG CỦA VĂN HÓA DỰNG NƯỚC VÀ GlỮ NƯỚC VIỆT NAM



HỒ KHANG & LÊ THANH BÀI
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam, cố kết dân tộc là truyền thống bền vững nổi trội, chiếm giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Đó là sản phẩm của cả một quá trình chung lưng đấu cật, làm ăn sinh sống, chống thiên tai và ngoại xâm của nhân dân Việt Nam. Đó vừa là kết quả, vừa là động lực của sự hình thành, lớn mạnh của quốc gia, dân tộc Việt Nam trong trường kỳ lịch sử.

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

TỪ TRUYỀN THỐNG CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA DÂN TỘC, NGHĨ VỀ SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN



Đền Hùng
Thượng tá, TS Hồ Khang
Dõi nhìn lịch sử Việt Nam, dễ dàng nhận thấy rằng, dựng nước phải đi đôi với giữ nước là đặc điểm bao trùm, là quy luật cơ bản, xuyên suốt lịch sử của miền đất đầu sóng ngọn gió bên mép Thái Bình Dương bao la này. Và cũng dễ dàng nhận thấy, trên hành trình dằng dặc hàng nghìn năm ấy, dân tộc Việt Nam đã bao phen buộc phải dồn tâm lực để tiến hành nhiều cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, chống lại các thế lực ngoại xâm hung hãn, khét tiếng, có tiềm lực và sức mạnh kinh tế, quân sự lớn gấp nhiều lần. Trong các cuộc chiến tranh đó, để đương đầu và đánh bại ý chí của kẻ thù xâm lược, người Việt Nam đã huy động sức mạnh tiềm tàng và to lớn của toàn dân tộc.

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013

NGUYỄN HUỆ VỚI NHÂN TÀI ĐẤT NƯỚC

                            Đại uý Hồ Khang*
    Trước khi tốc thắng ra Bắc phù Lê, diệt Trịnh, lịch sử ghi nhận Nguyễn Huệ là một tài năng về quân sự, còn những cố gắng của ông trên lĩnh vực chính trị rộng lớn, có chăng, cũng mới chỉ biểu hiện mờ nhạt. Bởi vì ngày ấy, những chiến công quân sự lẫy lừng ở miền Gia Định không được chuyển hoá thành thắng lợi chính trị bền vững tuy thuộc về Nguyễn Nhạc, nhưng là một trong các lãnh  tụ của phong trào Tây Sơn, Nguyễn Huệ cũng dự một phần trách nhiệm.
Song, trải qua thực tiễn, qua tháng năm xông pha trận mạc, cùng với sự lớn mạnh của phong trào, Nguyễn Huệ đã có được tầm nhìn phổ quát hơn. Tầm nhìn đó không chỉ biểu hiện ở lĩnh vực quân sự mà còn ở khía cạnh chính trị. Ở bài này, chúng tôi chỉ hạn chế trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Nguyễn Huệ với các cựu thần triều Lê. Trong quan điểm “trung quân” thời phong kiến, vấn đề này chẳng những thể hiện tầm nhìn của một lãnh tụ, sự nhạy cảm thức thời của một số trí thức, quan lại phong kiến mà nó còn tỏ rõ được sức thu hút, bản chất tiến bộ hay không của một phong trào.

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

SỨC MẠNH QUÂN ĐỘI TÂY SƠN – SỨC MẠNH CỦA KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC



Thượng tá TS HỒ KHANG
Trong lịch sử trung đại Việt Nam, thế kỷ XVIII được biết đến như một khoảng thời gian đầy tao loạn: cuộc chiến giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra triền miên và tàn khốc, đất nước bị cắt chia thành Đàng Ngoài và Đàng Trong mà sông Gianh là phân giới, một số thế lực từ bên ngoài thừa cơ và mượn cớ để xâm lấn đất đai. Li loạn, đói kém phủ bóng đen xuống đầu người dân Việt. Đời sống xã hội ngày càng ngột ngạt và nền độc lập của đất nước bị uy hiếp nặng nề. Chính lúc đó, Nguyễn Huệ đã cùng anh là Nguyễn Nhạc, em là Nguyễn Lữ phất cờ nghĩa ở đất Tây Sơn thượng đạo, khởi đầu cho một phong trào mà dấu ấn của nó phổ vào lịch sử Việt Nam sắc màu chói đỏ: đập tan các thế lực phong kiến cát cứ, xóa bỏ ranh giới chia cắt non sông, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của 5 vạn quân Xiêm ở phía Nam và 29 vạn quân Thanh ở phía Bắc, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

LÊ LỢI VỚI ĐỘI NGŨ TƯỚNG LĨNH TRONG SỰ NGHIỆP CỨU NƯỚC VÀ DỰNG NƯỚC (1416 — 1433)





HẢI DƯƠNG -HỒ KHANG
Sự nghiệp cứu nước và dựng nước của người anh hùng dân tộc Lê Lợi đến nay đã có nhiều người tìm hiểu, nghiên cứu. Với những mức độ khác nhau, ở các thời đại khác nhau, các công trình nghiên cứu nhìn chung đã khẳng định vị trí, vai trò và công lao của Lê Lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam (những năm 1416 – 1433). Trong bài viết này, chúng tôi chỉ tìm hiểu về Lê Lợi với đội ngũ tướng lĩnh, một trong những nhân tố quan trọng đề giành thắng lợi trong sự nghiệp cứu nước và dựng nước của nhân dân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XV.