Dõi nhìn lịch sử Việt Nam, dễ dàng nhận thấy rằng, dựng nước phải đi đôi với giữ nước là
đặc điểm bao trùm, là quy luật cơ bản, xuyên suốt lịch sử của miền đất đầu sóng
ngọn gió bên mép Thái Bình Dương bao la này. Và cũng dễ dàng nhận thấy, trên
hành trình dằng dặc hàng nghìn năm ấy, dân tộc Việt Nam đã bao phen buộc phải
dồn tâm lực để tiến hành nhiều cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc,
chống lại các thế lực ngoại xâm hung hãn, khét tiếng, có tiềm lực và sức mạnh
kinh tế, quân sự lớn gấp nhiều lần. Trong các cuộc chiến tranh đó, để đương đầu
và đánh bại ý chí của kẻ thù xâm lược, người Việt Nam đã huy động sức mạnh tiềm tàng
và to lớn của toàn dân tộc.
Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013
Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013
NGUYỄN HUỆ VỚI NHÂN TÀI ĐẤT NƯỚC
Trước khi
tốc thắng ra Bắc phù Lê, diệt Trịnh, lịch sử ghi nhận Nguyễn Huệ là một tài
năng về quân sự, còn những cố gắng của ông trên lĩnh vực chính trị rộng lớn, có
chăng, cũng mới chỉ biểu hiện mờ nhạt. Bởi vì ngày ấy, những chiến công quân sự
lẫy lừng ở miền Gia Định không được chuyển hoá thành thắng lợi chính trị bền
vững tuy thuộc về Nguyễn Nhạc, nhưng là một trong các lãnh tụ của phong trào Tây Sơn, Nguyễn Huệ cũng dự
một phần trách nhiệm.
Song,
trải qua thực tiễn, qua tháng năm xông pha trận mạc, cùng với sự lớn mạnh của
phong trào, Nguyễn Huệ đã có được tầm nhìn phổ quát hơn. Tầm nhìn đó không chỉ
biểu hiện ở lĩnh vực quân sự mà còn ở khía cạnh chính trị. Ở bài này, chúng tôi
chỉ hạn chế trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Nguyễn Huệ với các cựu thần
triều Lê. Trong quan điểm “trung quân” thời phong kiến, vấn đề này chẳng những
thể hiện tầm nhìn của một lãnh tụ, sự nhạy cảm thức thời của một số trí thức,
quan lại phong kiến mà nó còn tỏ rõ được sức thu hút, bản chất tiến bộ hay
không của một phong trào.
Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013
SỨC MẠNH QUÂN ĐỘI TÂY SƠN – SỨC MẠNH CỦA KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Trong lịch sử trung đại Việt Nam, thế kỷ XVIII được
biết đến như một khoảng thời gian đầy tao loạn: cuộc chiến giữa các tập đoàn
phong kiến diễn ra triền miên và tàn khốc, đất nước bị cắt chia
thành Đàng Ngoài và Đàng Trong mà sông Gianh là phân giới, một số thế lực từ
bên ngoài thừa cơ và mượn cớ để xâm lấn đất đai. Li loạn, đói kém phủ bóng đen
xuống đầu người dân Việt. Đời sống xã hội ngày càng ngột ngạt và nền độc lập của
đất nước bị uy hiếp nặng nề. Chính lúc đó, Nguyễn Huệ đã cùng anh là Nguyễn Nhạc,
em là Nguyễn Lữ phất cờ nghĩa ở đất Tây Sơn thượng đạo, khởi đầu cho một phong
trào mà dấu ấn của nó phổ vào lịch sử Việt Nam sắc màu chói đỏ: đập tan
các thế lực phong kiến cát cứ, xóa bỏ ranh giới chia cắt non sông, đánh bại
cuộc chiến tranh xâm lược của 5 vạn quân Xiêm ở phía Nam và 29 vạn quân Thanh ở
phía Bắc, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013
LÊ LỢI VỚI ĐỘI NGŨ TƯỚNG LĨNH TRONG SỰ NGHIỆP CỨU NƯỚC VÀ DỰNG NƯỚC (1416 — 1433)
Sự nghiệp
cứu nước và dựng nước của người anh hùng dân tộc Lê Lợi đến nay đã có nhiều người
tìm hiểu, nghiên cứu. Với những mức độ khác nhau, ở các thời đại khác nhau, các
công trình nghiên cứu nhìn chung đã khẳng định vị trí, vai trò và công lao của
Lê Lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước của nhân
dân Việt Nam (những năm 1416 – 1433). Trong bài viết này, chúng tôi chỉ tìm hiểu
về Lê Lợi với đội ngũ tướng lĩnh, một trong những nhân tố quan trọng đề giành
thắng lợi trong sự nghiệp cứu nước và dựng nước của nhân dân Việt Nam nửa đầu
thế kỷ XV.
VỀ CUỘC CẢI CÁCH CHÍNH TRỊ CỦA HỒ QUÝ LY CUỐI THẾ KỶ XIV – ĐẦU THẾ KỶ XV
Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ,
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh hùng di hận kỉ thiên niên.
Kiền khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lương viễn thụ yên
Cuối
thế kỷ XIV, chính quyền Đại Việt căn bản là một thể chế hỗn độn, duy trì những
hình thức nửa vời của một nhà nước có xu hướng tập trung quyền lực với một tình
trạng tản quyền rộng khắp. Sự gia tăng quyền lực của quý tộc địa phương, đặc
biệt hoàng tộc, nổi lên đặc biệt mạnh với mô hình điền trang thái ấp từ cuối
thế kỷ XIII, kết hợp với sự mở rộng lực lượng tăng lữ khắp đất nước khiến tiềm
lực quốc gia bị cắt xén, quyền lực nhà nước có nguy cơ bị xói mòn. Quyền lực tư
tưởng vốn thường do Nhà nước dẫn đạo chìm khuất vào non cao chứ không trở thành
một chân đế chính trị như nhà Trần của thế kỷ XIII hi vọng.
Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013
MIẾN NAM TRONG TƯ TƯỞNG VÀ TÌNH CẢM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Dẫn nhập
Hơn 20 năm sau khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc,
trong tác phẩm Nhìn lại quá khứ, tấn thảm
kịch và bài học Việt Nam, Mc Namara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, người phục
vụ qua hai đời Tổng thống Ken-nơ-đi và Giôn-xơn, đã thừa nhận rằng nước Mỹ
“không nhận ra được những hạn chế của các thiết bị quân sự trong sự đối đầu với
những trào lưu nhân dân được thúc đẩy cao”… “đánh giá thấp sức mạnh của chủ
nghĩa dân tộc thúc đẩu Việt Nam đấu tranh và hi sinh cho lý tưởng và các giá trị
của nó”. Nhận xét này, dù còn phiến diện, phần nào đã chạm tới sự thực: sức mạnh
của lòng yêu nước, của “trào lưu nhân dân được thúc đẩy cao” mà thực chất là khối
đại đoàn kết toàn dân, được tập hợp dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng
đầu là Hồ Chí Minh.
Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 KHÁT VỌNG VỀ NỀN TỰ DO-ĐỘC LẬP-TRỌN VẸN
Cách nay 61 năm, vào ngày 2.9.1945, tại vườn hoa Ba Đình,
trước cuộc mít tinh của gần triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính
phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập,
chính thức tuyên bố với toàn thể quốc dân Việt Nam và các nước trên thế giới sự
ra đời của nước Việt Nam DCCH: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập,
và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết
đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do
và độc lập ấy”.
Ngày 2.9.1945 trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử
dựng nước và giữ nước của Dân tộc Việt Nam.
Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013
TỪ THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – TÓM LƯỢC MỘT QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC
PGS.TS
Hồ Khang
Viện
Lịch sử quân sự Việt Nam
1- Sự vận động lịch sử
của một quốc gia, xét trên chiều cạnh
kinh tế- xã hội, như Marx từng nhận định, xoay quanh sự vận động đối lập
giữa đô thị với nông thôn[1].
Nhưng, xét trên khía cạnh chính trị thì
lịch sử của một dân tộc được phản ánh bằng lịch sử những trung tâm chính trị của nó- thường là những đô thị được kiến tạo,
rồi suy tàn và có thể phục hưng. Thêm vào đó, nếu xét một trung tâm chính trị theo nghĩa rộng nhất, thì hẳn phải phân tích
chúng như những trung tâm quyền lực
đầy ảnh hưởng đối với một vùng đặc trưng về địa- văn hóa. Những trung tâm như thế bao giờ cũng thể hiện
ra trong lịch sử như là các đô thị với mức độ tập trung nguồn lực đáng kể. Từ
góc độ này, có lẽ nên nhìn nhận lịch sử Việt Nam như một quá trình dịch chuyển,
định dạng và hình thành các trung tâm chính trị, mà ở đây chúng ta nghĩ tới
trục nối dài từ Thăng Long nghìn năm đến đô thị trẻ Sài Gòn- thành phố Hồ Chí
Minh.
Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013
TỪ TÁC PHẨM “NÂNG CAO PHẨM CHẤT CỘNG SẢN CỦA ĐẢNG VIÊN” SUY NGHĨ VỀ PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CHỈ HUY TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
Viện Lịch sử quân sự
Việt Nam
1. Tháng 12-1982, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số
07 “Về việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế
lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự nghiệp quốc phòng và
thực hiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội” với mục tiêu bảo đảm sự lãnh đạo vững
chắc của Đảng trong mọi tình huống, phát huy cao độ trách nhiệm của người chỉ
huy, không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng và sức mạnh chiến đấu của
quân đội.
Nghị quyết 07 chỉ rõ: Đảng lãnh đạo trực tiếp,
tập trung, thống nhất các lực lượng vũ trang cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức,
không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội
trung thành vô hạn với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








